Người Đàng Hạ

Ở một bán đảo cực Bắc vùng biển Khánh Hòa có một tộc người thiểu số sinh sống hàng trăm năm qua. Người ta đồn rằng, đó là tộc người chưa có trong danh sách gần sáu mươi dân tộc anh em đang sinh sống ở Việt Nam. Họ quét nhà không dùng chổi, lấy nước không cần giếng và gần biển nhưng không hề biết đánh cá… Đó là người Đàng Hạ.

Người Đàng Hạ là ai? từ đâu đến? đến từ bao giờ? vì sao lại đến nơi này… cho tới nay vẫn là những dấu hỏi, đầy bí ẩn. Chỉ biết rằng, Đàng Hạ là tên gọi để phân biệt họ với những tộc người thiểu số sống trên núi cao.

 

  1. Một tộc người bí ẩn?!

Không ai nhớ rõ nguồn gốc dân tộc mình, họ chỉ biết, lâu lắm rồi cộng đồng tròm trèm 30 người của họ túm tụm sống trên bãi biển Sơn Đừng (có người gọi là Xuân Đừng – xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa).

Người Đàng Hạ có nước da ngăm đen, tóc xoăn, mắt lộ, nếp sống và ngôn ngữ của họ ngày nay đã được Việt hóa, chỉ khác là họ mang vác theo kiểu đội đầu giống như người Chăm. Cư dân của làng chài nhỏ này sống gần như tách biệt với thế giới bên ngoài, quanh năm ngày tháng ăn ngủ cùng làn nước biển mặn mòi.

Ở biển bao đời nay mà người Đàng Hạ không hề biết làm lưới, đánh cá. Họ chỉ biết lên núi đá Khải Lương, Ninh Đảo chặt củi, đốt than rồi mang ra chợ đổi lấy gạo mắm, quần áo, thuốc men. Họ không có khái niệm rõ ràng về những bữa cơm gia đình: Đói đâu, ăn đó; có gì, ăn nấy. Nhiều hộ gia đình ba, bốn nhân khẩu mà chỉ có vài cái quần, người ở nhà phải nhường quần cho người có việc phải đi ra ngoài. Những tưởng đó là những câu chuyện thêu dệt nên, nào ngờ, đó là chuyện hoàn toàn có thật về đời sống người Đàng Hạ những năm trước đây.

  1. Tổ tiên của họ là ai?

Cả nhà nghiên cứu Trần Viết Kỉnh lẫn Giáo sư Trần Quốc Vượng đều khẳng định Đàng Hạ là một tộc người thiểu số. Có thể tổ tiên họ là chủ nhân của Vương quốc Phù Nam xa xưa, đến thế kỷ 6 thì bị người Champa thôn tính.

Cũng có thể họ là mảnh vỡ còn sót lại của một tộc người từng là chủ nhân của một nền văn minh rực rỡ nào đó trong quá khứ nhưng bị vụn nát không đủ lực kết nối lại để phục hưng.

Lại có giả thiết nói rằng, tổ tiên của họ là những thuyền nhân từ các nước bị bão tố đánh dạt vào vịnh biển này và họ định cư luôn tại đây. Vì có một quá khứ rất “tù mù” như thế nên để hiểu ngọn nguồn của bộ tộc này là không đơn giản. Chỉ biết rằng, họ khác biệt rất rõ với người Kinh từ giọng nói, dáng đi, nhất là khuôn mặt. Da ai cũng đen, tóc xoăn, mũi tẹt, môi dày, mày rậm, bàn chân to bè khác thường, đặc biệt là con ngươi trong mắt ai cũng màu đồng, rất dễ nhận diện.

Kết quả hình ảnh cho người đàng hạ

Khoảng 30 năm trước, cả làng Sơn Đừng chỉ có trên chục gia đình. Họ dựng những ngôi nhà tạm bợ trên cát, mái lợp tranh hoặc lá dừa, vách được thưng bằng cây rừng. Hỏi sao mấy trăm năm trú ngụ tại đây mà chỉ có từng ấy gia đình? Lão bà Trần Thị Mía (85 tuổi) lý giải: “Nhiều thanh niên khi lớn lên rời làng đi các nơi để tìm cơ hội thay đổi cuộc sống bức bí hiện tại. Như tui đây, một lần lên trên Vạn Giã chơi, gặp ông ấy rồi lấy làm chồng, sinh 8 đứa con. Khi ông mất (4 năm trước), tôi lại về làng cũ. Chỉ có những người già mới trở về nơi mình sinh ra”.

  1. Lấy nước ngọt từ biển để sống

Kết quả hình ảnh cho người đàng hạ

Dùng tay moi lớp cát sát mép nước biển thành một cái lỗ nông choèn. Nước từ đâu ùa ra, ngỡ như nước biển thẩm thấu qua cát nhưng không phải. Vốc một ngụm, ông Chín Nôm đánh ực: “Nước ngọt đấy, thử coi”. Rồi ông kể: “Nước ngọt đây là nhờ ngài Nguyễn Ánh đấy. Lúc bị quân Tây Sơn truy đuổi, ông chạy ra vùng này để lánh nạn. Quân lương cạn kiệt, nước ngọt cũng chẳng còn giọt nào. Đêm đó ông lập đàn và khấn trời đất. Cá từ đâu ùn ùn nổi lên. Rồi nước ngọt phun trào ngay mép biển. Quân sĩ đã thoát được hiểm họa đói khát. Nguyễn Ánh cho người thảo sắc phong rồi nhúng cả bàn tay trái của ông vào nghiên mực để “đóng” lên đó. Sắc phong được người làng cất giữ cẩn thận nhưng sau một vụ hỏa hoạn 30 năm trước, cháy làng, cháy luôn báu vật”. Cũng là một dạng giai thoại để lý giải vì sao làng không có giếng nước nào mà vẫn tồn tại ngay sát mép biển suốt mấy trăm năm qua.

4. Ánh sáng mới cho ngôi làng nghèo

Người Đàng Hạ hôm nay đã hòa nhập cuộc sống cộng đồng VN. Con số 100% thất học, 100% gặp cảnh đói thường xuyên, phá rừng đốt than… là cảnh của những năm về trước. Từ năm 2000, khi lực lượng bộ đội biên phòng – đồn 358 nhận đỡ đầu thì người Đàng Hạ xóm Sơn Đừng được học cái chữ để đọc sách, biết cái kỹ thuật nuôi tôm hùm, có thuyền ra khơi đánh cá và biết trồng rừng… Đến Sơn Đừng những ngày này, từ xa chúng tôi đã nhận ra những ngôi nhà xây quét vôi trắng thấp thoáng sau hàng dừa xanh ngút. “Bộ đội biên phòng xây đấy, tất cả là bảy căn” – thiếu tá Trần Tùng Thanh, phó đồn trưởng chính trị đồn biên phòng 358, cho biết.

Khi đó, ghe đánh cá của ông Bảy cũng vừa kịp về cập bến. Ông già “độc nhãn” xấp xỉ sáu mươi tuổi ấy giơ tay ngang trán chào theo kiểu nhà binh: “Chào cán bộ!”. Rồi ông lăng xăng mời chúng tôi xắn quần lội vào bãi cát trước cửa nhà ông “chơi”.

“Ông có ba đứa con được bộ đội dạy học, mấy tháng rồi thầy mãn hạn nghĩa vụ về quê, các em phải nghỉ học. đồn chưa tìm được người mới nên dân làng trông…” – anh Thanh giải thích chưa hết câu thì ông Bảy đã hỏi dồn: “Sao lâu hung không thấy cán bộ xuống dạy học, để mấy cháu quên chữ quên nghĩa hết trơn. Sự thiệt ra cũng mong cho mấy đứa tiến lên đôi mức nữa. Tui định bổ sung thêm”. Ý ông Bảy muốn đăng ký cho mấy đứa nữa đi học.

Tôi đã được nghe kể về nỗi khát khao được biết chữ của người dân Sơn Đừng. Có những trẻ mới năm tuổi cũng được phụ huynh năn nỉ gửi vào lớp một. Vậy nên giờ lên lớp, ngoài tập giáo án thầy giáo còn “thủ” một bịch đồ chơi. Thế mới gọi là “thầy giáo mang quân hàm xanh”.

Những thầy giáo mang quân hàm này đi vận động từng cuốn sách cũ, gò lưng làm từng món đồ chơi. Thầy cùng ăn, cùng ở, cùng làm, góp gạo thổi cơm chung và những ngày đầu còn nhịn đói chung với gia đình phụ huynh. Từ hơn ba năm nay, 24/39 người Đàng Hạ được dạy biết đọc biết viết.

Dạy chữ cho cái xóm mà từ đời cha ông chưa biết cầm cây bút ra sao đã khó, dạy cho họ biết làm ăn, không ỷ lại vào thiên nhiên càng khó hơn. Các anh tự nguyện góp tiền tạo vốn cho dân. Số tiền có được mua tôm hùm giống, cây điều con. Mỗi hộ được 40 tôm giống và 50 cây điều. Thế nhưng, nuôi và trồng bằng cách nào? Chính các anh bộ đội lại mày mò học kỹ thuật nuôi tôm, trồng điều rồi truyền lại cho dân. Bao đời dân chỉ biết chặt cây rừng, bắt con thú rừng chứ đâu biết trồng, biết nuôi.

Sau một năm rưỡi nuôi tôm, có hộ thu được cả trăm triệu. Các anh bộ đội lại bày dân mua ghe, mua lưới ra khơi. Vậy là câu chuyện về người Đàng Hạ “sợ nước” đã thành chuyện đời xưa khi hiện nay tất cả bảy hộ dân đều có ghe, lưới. Chưa giàu nhưng người Đàng Hạ đã không còn đói lay lắt như xưa. Không còn phải lên rừng chặt cây ủ than, săn bắt con thú nữa.

Chẳng những vậy, có hộ như hộ Đinh Mười còn sắm được cả hai ghe đi lưới. Đinh Mười có năm đứa con, có đứa đã biết theo cha ra biển, vợ làm bánh tráng. Nhà anh được xem là khá giả nhất đảo. Bên cạnh nhà bộ đội xây cho mấy năm về trước, anh còn xây thêm một căn bên cạnh, cũng nhà xây nền cao, trong nhà có tủ kiếng, xalông…

Những ngày này trên đảo, vườn điều của những người Đàng Hạ đang độ ra hoa. ông Bảy dắt chúng tôi ra thăm vườn điều, tôi thật bất ngờ khi thấy bên cạnh những cây điều cao, những cây điều con mới ra ba bốn lá xanh nõn nà.

Thì ra, ông Bảy đã giữ tất cả hạt thu được trong đợt trái bói năm trước và ươm miết trên đồi cát hoang. Điều ấy có lớn lao gì đâu, nhưng đối với Sơn Đừng là cả một sự đổi thay: Sơn Đừng không còn là Sơn Đừng “cùi” với dáng dấp cuộc sống nguyên thủy của người Đàng Hạ khi xưa nữa. Người Đàng Hạ giờ đây đang dựng xây cuộc đời của mình…

Cách đây chừng 15 năm, muốn đặt chân đến ngôi làng này chỉ có hai cách, một là lội bộ chừng 5 km trên những truông cát bỏng chân, hai là đi bằng thuyền. Đò giang cách trở nên ở đây không có trường học, không chợ búa và rất nhiều cái “không” khác, trong đó có một cái “không” rất kỳ lạ là không giếng nước dù quanh họ không có sông và suối.

Chủ tịch UBND xã Vạn Thạnh cho biết: “Do địa hình toàn cát và khá hiểm trở nên rất khó để phát triển kinh tế cho Sơn Đừng. Tuy nhiên, mấy năm qua, nhờ du lịch phát triển, nhiều resort mọc lên vùng này, các chủ lồng bè đầu tư lớn tại đây nên dân Sơn Đừng đã có đường nhựa, điện đã kéo về từng nhà nên đã có nước giếng đóng cho hợp vệ sinh. Con em Sơn Đừng cũng đã được đi học chứ không mù chữ như bố mẹ, ông bà chúng nữa. Một vài thanh niên trong làng cũng đã học tập được cách nuôi cá lồng bè, hy vọng họ sẽ là những đốm lửa thắp sáng xóm nghèo này”.

 

Tổng hợp

 

Loading...